Giỏ hàng
Danh mục sản phẩm
Facebook Instagram Youtube Twitter

Tuyển tập 100 bức tranh tả ý của Tề Bạch Thạch

Đăng bởi Quách Thu ngày bình luận

MỤC LỤC [Ẩn]

    Tề Bạch Thạch (1863-1957) tên thật là Thuần Chi 纯芝, hiệu Bạch Thạch 白石, tự Vị Thanh 渭清, sau đổi tên thành Hoàng 璜, tự Bình Sinh 萍生, biệt hiệu khác là Sơn Quán Chủ Giả 山馆主者, Ký Bình Lão Nhân Lão Bình 寄萍老人老萍, Hạnh Tử Ổ Lão Dân 杏子坞老民, Mộc Nhân 木人, Mộc Cư Sĩ 木居士. Quê ở Tương Đàm, Hồ Nam, Trung Quốc. Ông là thư họa gia, thư pháp và triện khắc gia nổi tiếng của Trung Quốc thế kỷ 20.


    Chân dung Tề Bạch Thạch

    Lúc trẻ ông làm nghề thợ mộc, sau này học vẽ, 57 tuổi định cư ở Bắc Kinh. Sở trường của ông là họa điểu, côn trùng, cá, sơn thủy, nhân vật. Tác phẩm của ông bút mực hùng hồn, màu sắc đậm, thanh thoát, tạo hình súc tích, sinh động, quan niệm nghệ thuật chất phác, giản dị. Đặc biết là các tác phẩm về tôm, cua, cá đầy sự ngẫu hứng, sinh động bất ngờ. Về thư pháp, ông sở trường triện thư và lệ thư, học theo bia thiếp thời Tần, Hán. Hành thư của ông mang ý vị cổ sơ. Về triện khắc ông đã tạo cho mình một phong cách riêng biệt, ngoài ra ông cũng có khả năng về thi văn. Tề Bạch Thạch từng đảm nhiệm chức vụ Giáo sư danh dự Học viện mỹ thuật Trung Ương, Chủ tịch Hiệp hội Mỹ thuật gia Trung Quốc.v.v.. Các tác phẩm tiêu biểu gồm có: Oa thanh thập lý xuất sơn tuyền 蛙声十里出山泉, mặc há 墨虾, các sách đáng kể đến như: Bạch Thạch thi thảo 白石诗草, Bạch Thạch lão nhân tự thuật 白石老人自述.

    Ông từng nói: Xuất thân là đứa trẻ nghèo, có thể lớn lên thành người và lập nghiệp trong xã hội thực là một điều khó như lên trời. Tôi xuất thân là con nhà nghèo, đến nay đã già tạm coi là có chút hư danh, nhớ là những ngày tháng đã qua bao nhiêu lời muốn nói, cảm xúc muốn bày tỏ, Tôi xin đúc kết ở mấy câu sau:

    Ghi chú: Sợ rằng khi dịch sẽ không lột tả được hết ý tứ hoặc làm sai lệch lời của tác giả nên TPDP sẽ để nguyên văn lời của ông kèm thiển dịch phía dưới:

    1、善写意者专言其神,工写生者只重其形。要写生而后写意,写意而后复写生,自能神形俱见,非偶然可得也。

    Phiên âm:  Thiện tả ý giả chuyên ngôn kỳ thần, công tả sinh giả chích trọng kỳ hình. Yếu tả sinh nhi hậu tả ý, tả ý nhi hậu phục tả sinh, tự năng thần hình câu kiến, phi ngẫu nhiên khả đắc dã. 

    Tạm dịch: Kẻ giỏi về tranh tả ý thì chuyên lột tả cái thần, kẻ giỏi công bút (tả thực) thì chuyên về tả hình. Trươc tiên cần vẽ tả thực, sau vẽ tả ý, rồi lại tiếp tục luyện tập tả thực, cứ như vậy tự nhiên có thể lột tả được cả thần (tả ý) và hình (tả thực), mọi thứ không tự nhiên mà có.

    2、学我者生,似我者死。勿道人之短,勿说己之长;人骂之一笑,人誉之一笑。

    Phiên âm: Học ngã giả sinh, tự ngã giả tử. Vật đạo nhân chi đoản, vật thuyết kỷ chi trường; nhân mạ chi nhất tiếu, nhân dự chi nhất tiếu.

    Tạm dịch: Học ta thì sống, giống ta thì chết. Chớ khoe tài mình giỏi, chớ chê người kém. Người chê thì cười, người khen cũng cười.

    3、不叫一日闲过。

    Phiên âm: Bất khiếu nhất nhật nhàn quá.

    Tạm dịch: Không để 1 ngày nhàn hạ.

    4、人欲骂之,余勿听也;人欲誉之,余勿喜也。

    Phiên dịch: Nhân dục mạ chi, dư vật thính dã; nhân dục dự chi, dư vật hỉ dã.

    Tạm dịch: Người ta mắng mình thì chớ có nghe, người ta khen mình cũng chớ vội vui.

    5、似者媚俗,不似者欺世,妙在似与不似之间。

    Phiên âm: Tự giả mị tục, bất tự giả khi thế, diệu tại tự dữ bất tự chi gian.

    Phiên dịch: Miêu tả đối tượng (sắc, hình) không nên không giống, cũng không nên giống quá. Nếu không giống thì người khác không hiểu được tranh của ta, đó chẳng khác gì là lừa gạt thế nhân. Tả thật quá thì cũng vô vị. Vẽ tranh thủy mặc diệu ở chỗ vừa hư vừa thực.

    6、寿高未死羞为贼,不辞长安作恶饕。

    Phiên âm: Thọ cao vị tử tu vi tặc, bất từ trường an tác ác thao.

    Tạm dịch: Tuổi cao mà chưa chết thấy xấu hổ vô cùng, không lời từ biệt về Trường An làm kẻ ham ăn.

    7、莫羡牡丹称富贵,却输梨橘有余甘。

    Phiêm âm: Mạc tiện mẫu đan xưng phú quý, khước thâu lê quất hữu dư cam.

    Phiên dịch: Mẫu đơn có thừa sự phú quý, nhưng thua sự ngọt ngào vốn có của Lê Quýt (ý nói mọi vật sinh ra đều có thiên tính, không cưỡng cầu).

    8、任君无厌千回剥,转觉临风遍体轻。

    Phiên âm: Nhâm quân vô yếm thiên hồi bác, chuyển giác lâm phong biến thể khinh

    Phiên dịch: Đang cập nhật

    9、我是学习人家,不是摹仿人家,学的是笔墨精神,不管外形像不像。

    Phiên âm: Ngã thị học tập nhân gia, bất thị mô phảng nhân gia, học đích thị bút mặc tinh thần, bất quản ngoại hình tượng bất tượng

    Tạm dịch: Tôi đi học người khác, không phải đi mô phỏng người khác, cái tôi học là tinh thần của bút mặc, tôi không chú trọng ngoại hình giống hay không.

    10、我绝不画我没见过的东西。

    Phiên âm: Ngã tuyệt bất họa ngã một kiến quá đích đông tây.

    Tạm dịch: Tôi tuyệt đối không vẽ những thứ tôi chưa từng nhìn thấy.

    11、欲立艺者,先立人。

    Phiên âm: Dục lập nghệ giả, tiên lập nhân.

    Tạm dịch: Người muốn làm nghệ thuật, trước tiên phải học cách làm người.

    12、作画先阅古人真迹过多,然后脱前人习气别造画格。乃前人所不为者,虽没齿无人知,自问无愧也。清逸,不慕名利,方可从事于画。见古今之长,摹而肖之能不夸,师法有所短,舍之而不诽,然后再现天地之造化。如此腕底自有鬼神。

    Phiêm âm: Tác họa tiên duyệt cổ nhân chân tích quá đa, nhiên hậu thoát tiền nhân tập khí biệt tạo họa cách. Nãi tiền nhân sở bất vi giả, tuy một xỉ vô nhân tri, tự vấn vô quý dã. Thanh dật, bất mộ danh lợi, phương khả tòng sự vu họa. Kiến cổ kim chi trường, mô nhi tiếu chi năng bất khoa, sư pháp hữu sở đoản, xá chi nhi bất phỉ, nhiên hậu tái hiện thiên địa chi tạo hóa. Như thử oản để tự hữu quỷ thần.

    Phiên dịch: Vẽ tranh trước tiên phải xem tranh bản gốc (chân tích) của cổ nhân thật nhiều, sau đó thoát khỏi những tật xấu của tiền nhân để tạo ra phong cách của riêng mình. Làm những điều tiền nhân chưa làm, làm như vậy tuy biết là mất thể diện (vô sỉ) nhưng chắc là không ai biết (được đâu), dù sao trong lòng cảm thấy không xấu hổ là được. Thanh dật (an nhàn tự tại), không màng danh lợi, lại vừa có nhiều thời gian để tập trung vẽ vời. Nếu gặp những sở trường của cổ nhân, học theo mà không khoa trương, học theo có lúc cũng thấy cái khuyết điểm của cổ nhân, khi đó hỉ xả chứ đừng phỉ báng. Sau đó, thể hiện được tạo hóa của thiên địa. Làm được như vậy tự khăc có quỷ thần dưới cổ tay (ngọn bút).

    13、画中要常有古人之微妙在胸中,不要古人之皮毛在笔端。欲使来者只能摹其皮毛,不能知其微妙也。立足如此,纵无能空前,亦足绝后。学古人,要学到恨古人不见我,不要恨时人不知我耳。

    Phiên âm: Họa trung yếu thường hữu cổ nhân chi vi diệu tại hung trung, bất yếu cổ nhân chi bì mao tại bút đoan. Dục sử lai giả chích năng mô kỳ bì mao, bất năng tri kỳ vi diệu dã. Lập túc như thử, túng vô năng không tiền, diệc túc tuyệt hậu. Học cổ nhân, yếu học đáo hận cổ nhân bất kiến ngã, bất yếu hận thì nhân bất tri ngã nhĩ.

    Tạm dịch: Khi vẽ phải thường xuyên có cái vi diệu của cổ nhân trong lồng ngực (tức đặt mình vào hoàn cảnh, trạng thái của cổ nhân), đừng chỉ để ý đến bút pháp của cổ nhân. Nếu người học chỉ biết mô phỏng một cách sơ sài những thứ bên ngoài như vậy thì không biết thế nào là vi diệu. Lập thân như vậy, trước nay chưa từng có. Học cổ nhân, phải học cho đến khi cổ nhân thấy hận vì không gặp ta (vì ta đã làm đã làm được nhiều hơn thế nữa), cũng đừng hận người đường thời không biết đến ta (cũng vì ta đã làm được nhiều điều mà họ chưa biết).


    Cũ hơn Mới hơn