Giỏ hàng
Danh mục sản phẩm
Facebook Instagram Youtube Twitter

Bật mí về giấy dó và quy trình sản xuất giấy dó

Đăng bởi Nguyễn Chí Việt ngày bình luận

MỤC LỤC [Ẩn]

    Nghề làm giấy xưa đã đi vào ca dao của người Việt như một niềm tự hào, một nét tinh hoa.

    Mịt mù khói tỏa ngàn sương

    Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ
    Với người xưa, tiếng nện chày giã giấy dó đã trở nên quen thuộc.Bởi nghề làm giấy dó của người Việt có truyền thống khá lâu đời, và vẫn được lưu truyền cho tới tận ngày nay. Thế nhưng với các bạn trẻ, nếu không thật sự có niềm đam mê với giấy, có lẽ cũng sẽ ít biết về một nghề đáng trân quý này.

    Để tìm hiểu về nghề sản xuất giấy dó đã từng đi vào cao dao, Thư pháp dụng phẩm đã dành thời gian về vùng đất Bắc Ninh để được 'tai nghe mắt thấy' quá trình công phu làm ra trang giấy dó lưu truyền bao đời.

    Giấy dó là gì?

    Giấy dó là loại giấy được sản xuất từ vỏ những cây dó (như dó giấy, dó liệt...), theo quy trình thủ công được truyền lại qua nhiều thế hệ ở một số làng nghề ở Việt Nam. Giấy dó được dùng cho vẽ tranh trong mỹ thuật dân gian Việt Nam, đặc biệt là để làm giấy điệp cho tranh Đông Hồ, hay lưu giữ các tài liệu, nhờ vào nhiều ưu điểm, nổi bật nhất là độ bền theo thời gian.

    Giấy dó là loại giấy được sản xuất từ vỏ những cây dó

    Giấy dó có đặc tính xốp nhẹ, bền dai, không nhoè khi viết vẽ, ít bị mối mọt, hoặc dòn gẫy, ẩm nát.

    Sở dĩ giấy dó xốp, nhẹ là do nguyên liệu, cách chế biến, xử lý nguyên liệu và công nghệ sản xuất giấy dó quy định. Giấy dó có cấu trúc dạng sợi, các xơ sợi li ti liên kết với nhau tựa mạng nhện, nhiều lớp, không theo thứ tự sợi ngang, dọc như tấm lụa dệt, mà theo dạng chuyển động brown, đa chiều. Giấy dó có trọng lượng riêng bằng khoảng một nửa các loại giấy sản xuất công nghiệp.

    Giấy dó được nhắc đến nhiều, nhưng rất nhiều người lại không biết đến cây dó giấy - nguyên liệu chủ yếu tạo ra sản phẩm giấy dó. Để tìm hiểu về loại giấy dó cũng như nguyên liệu của loại giấy này cần phải ‘mắt thấy, tai nghe, tay làm’ mới cảm thụ được hết sự tinh tế mà người lao động tạo ra.

    Giấy dó có đặc tính xốp nhẹ, bền dai, không nhoè khi viết vẽ, ít bị mối mọt, hoặc dòn gẫy, ẩm nát.

    Được biết, cây dó giấy có tên khoa học là Rhamnoneuron balansae, thuộc họ trầm Thymelaeaceae, bộ trầm Thymelaeales, là một loại cây nhỏ trong nhóm cây gỗ lớn, cao 8-12m, đường kính thân ≤ 20cm, cành non phủ đầy lông. Lá mọc cách, phiến hình trứng thuôn, dài 10-20cm, rộng 3-3,5cm, tròn, thót nhọn ở đầu, mỏng, nhẵn ở mặt trên có lông ngắn và nằm ở mặt dưới, có 20 - 25 đôi gân, bậc hai gần như song song; cuống lá dài 3 - 4mm, có lông và có cánh.

    Cụm hoa ở đầu cành là chùy thưa dài hơn lá, có lông. Cụm hoa đơn vị là tán, gồm 4 hoa không cuống, khi non được bao bởi hai lá bắc tổng bao dài 6 - 7mm, có lông len. Hoa màu trắng, lưỡng tính, thơm. ống đài dài 1cm, hơi loe ở giữa, phủ đầy lông ở ngoài, nhẵn, ở trong mang 4 lá đài trên đầu. Lá đài hình trứng, to nhỏ không bằng nhau, dài 2mm, có lông ở mặt ngoài. Nhị 8, xếp thành hai vòng không dài bằng nhau.

    Đĩa tuyến mật cao 1,5 - 2mm, hình chén mỏng, mép lượn sóng. Bầu hơi có cuống, phủ đầy lông; vòi ngắn; núm to, gần hình bán cầu. Quả khô không tự nở, hình trứng, dài 7mm; vỏ quả ngoài mỏng, phủ đầy lông màu vàng nhạt. Hạt hình thoi, dài 6mm, rộng 1,7mm.

    Cây dó giấy ngày càng trở nên quý, hiếm hơn. Vì vậy, loại giấy dó cũng không còn phổ biến như trước kia nữa.

    Giấy dó xếp thành từng lớp, giấy mỏng nhưng bền dai được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực.

    Quy trình sản xuất giấy dó

    Nếu không phải là những người làm nghề sản xuất giấy dó hay những người có sở thích đam mê với các loại giấy viết, ít ai biết đến quy trình để sản xuất ra những trang giấy dó mỏng nhẹ nhưng lại có độ dẻo dai bất ngờ.

    Vỏ cây dó được bào từng sợi

    Để sản xuất ra những trang giấy dó không hề đơn giản chút nào. Với nghề sản xuất giấy dó, người thợ phải thật sự khéo tay, kiên trì bền bỉ, tỉ mỉ trong từng khâu, từng bước.

    Vỏ cây dó ngâm trong nước vôi 3 tháng

    Tiếp đến giã nhuyễn (đem xay nhuyễn bằng máy) vỏ cây dó

    Nghiên cứu tại các cơ sở sản xuất giấy dó ở Việt Nam cho thấy, về cơ bản, giấy dó sản xuất thủ công, không có tác động hoá chất tạo axít trong giấy. Vỏ cây dó được nấu và ngâm trong nước vôi với thời gian ba tháng, sau đó được nấu cách thủy khoảng 3 ngày 2 đêm cho đến khi ngửi thấy mùi thơm của vỏ cây được nấu chín nhừ hoặc thấy phần thịt của vỏ cây dó trong lại.

    Người thợ sản xuất giấy dó dùng 'liềm seo'. Thợ seo chao đi chao lại trong bể bột dó, lớp bột dó trên liềm chính là tờ giấy dó sau khi kết thúc công đoạn ép, bóc, can, phơi (sấy), lột giấy.

    Tiếp đến dùng dao nhỏ bóc bỏ lần vỏ đen đi, giã bằng cối và chày cho đến khi thành một dạng bột nhuyễn rồi cho bột dó vào một cái rá to có đường kính một mét được đan bằng tre để đãi sạch nước vôi, gọi là "đãi bìa", ngày nay công nghệ hiện đại có thể xay bằng máy. Dùng chất nhầy từ cây mò (chi Clerodendrum) tạo hỗn hợp kết dính. Hỗn hợp này gọi là "nhớt gỗ" mà người thợ sẽ pha với nước độ lỏng hay đặc tùy theo loại giấy.

    Khi seo giấy, người thợ dùng "liềm seo" - liềm là một mành nứa hoặc giang chẻ nhỏ như sợi tăm rồi dùng sợi tơ xe lại mua ở làng Triều Khúc về đan lại - công đoạn đan liềm này do các thợ thủ công ở làng Cáo Đỉnh đảm nhận. Thợ seo chao đi chao lại trong bể bột dó, lớp bột dó trên liềm chính là tờ giấy dó sau khi kết thúc công đoạn ép, bóc, can, phơi (sấy), lột giấy. Xơ dó kết lại với nhau, như cái mạng nhện nhiều lớp, tạo nên tờ giấy dó. Sự kết mạng như vậy đã làm cho tờ giấy xố, nên giấy rất nhẹ. Các công cụ sản xuất hầu như bằng tre, gỗ và dùng ánh sáng tự nhiên để làm khô giấy. Giấy dó được sản xuất theo quy trình này không có độ axít dẫn đến tuổi thọ cao. Một số tài liệu cho rằng giấy dó có độ tuổi thọ tới 500 năm.

    Công đoạn ép giấy dó cũng khá thủ công, tỉ mỉ.

    Có thể thấy để sản xuất ra giấy dó, người làm nghề phải thật sự có tâm với nghề, phải thật am hiểu về quy trình sản xuất giấy, cần tỉ mỉ, cẩn thận từng chi tiết nhỏ, vì chỉ cần sai sót một bước là không thể sản xuất ra loại giấy xốp nhẹ, dẻo dai, tuổi thọ cao, ứng dụng rộng này được.

    Quy trình sản xuất giấy dó, tạo ra những bức tranh Đông Hồ truyền thống

    Ứng dụng của giấy dó trong đời sống

    Đã là giấy thì ứng dụng thiết thực nhất là để in sách, viết chữ. Vì thế, cũng như các loại giấy khác, giấy dó cũng đáp ứng được đầy đủ các chức năng đó, được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực in sách cũng như để viết chữ. Tuy nhiên, đối với giấy dó, ứng dụng của loại giấy này lại lớn vô cùng so với những loại giấy khác.

    ung-dung-cua-giay-do

    Từ những trang giấy dó mỏng dai, nhẹ xốp...

    Từ việc in sách, ghi chép ( thích hợp với sử dụng bút lông), giấy dó còn được ứng dụng đặc biệt trong lĩnh vực vẽ tranh dân gian, làm đồ chơi trung thu, làm vàng mã, làm quạt, bao bì, giấy chống ẩm, sản xuất tấm cách âm, cách nhiệt, làm màng loa máy thu thanh, mỹ nghệ...

    ung-dung-giay-do-trong-ve-tranh

    ...Dưới bàn tay người nghệ sĩ, trở thành tác phẩm nghệ thuật tranh Đông Hồ

    Giấy dó được sử dụng trong nghệ thuật tranh Đông Hồ, ứng dụng này các loại giấy khác không thể có được. Cụ thể, giấy dó được dùng cho vẽ tranh trong mỹ thuật dân gian Việt Nam, đặc biệt là để làm giấy điệp cho tranh Đông Hồ, hay lưu giữ các tài liệu, nhờ vào nhiều ưu điểm, nổi bật nhất là độ bền theo thời gian.

    Có thể thấy, những trang giấy dó mỏng manh, nhẹ xốp mà dẻo dai đến lạ kỳ được ứng dụng rộng rãi trong đời sống, vượt trội hơn nhiều so với những loại giấy thông thường khác. Cũng vì thế mà những người làm nghề mới tâm huyết kỳ công để tạo ra những trang giấy dó thủ công bền lạ đến vậy.