Giỏ hàng
Danh mục sản phẩm
Facebook Instagram Youtube Twitter Google+

Một số thuật ngữ thư pháp thường gặp - Phần 2

Đăng bởi Nguyễn Chí Việt ngày bình luận

MỤC LỤC [Ẩn]

    Thư Pháp chữ Hán là môn nghệ thuật có lịch sử lâu đời. Trong quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện, thư pháp được nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm, lý luận. Trong việc học tập thư pháp thì ngoài thực hành, người học còn được truyền dạy những kiến thức, lý luận về bút pháp, kỹ pháp và chương pháp. Những kiến thức này sẽ định hướng cho việc thực hành lập mô được hiệu quả hơn. Mỗi lĩnh vực đều có những thuật ngữ chuyên ngành riêng, thư pháp cũng không phải là ngoại lệ. Hiểu các thuật ngữ thư pháp giúp cho giao lưu, trao đổi kiến thức thư pháp được thống nhất, dể thấu hiểu hơn. Thư Pháp Việt tuy có lịch sử chưa lâu, nhưng do tính ứng dụng và tính thời đại cao nên sẽ phát triển mạnh mẽ trong tương lai. Như một lẽ tất nhiên, các thuật ngữ thư pháp Việt dần được hình thành để mọi người thuận tiện trong giảng dạy, học tập, trao đổi kiến thức. Trong thư pháp Việt, chúng ta không nhất thiết phải dập khuôn sử dụng các thuật ngữ thư pháp Hán nhưng cũng nên tham khảo, từ đó có thể mượn hoặc xây dựng các thuật ngữ thuần việt ngắn gọn nhưng đầy đủ nội hàm.

    8. BÚT Ý 笔意

    Trong việc viết chữ, vẽ tranh, vận bút theo ý tưởng đã suy nghĩ hoặc ý tưởng nảy sinh bất ngờ, đạt giá trị thẩm mỹ cao, trong không gian chuyển vận của đường bút thể hiện được phong cách gọi là bút ý.

    9. BÚT THẾ 笔势

    Trong việc viết chữ, đầu ngọn bút chuyển vận qua lại trên mặt giấy theo một su thế có hướng nhất quán gọi là bút thế. Thế tạo ra hình và để lại khí tượng và làm thành đặc điểm kết thể riêng đặc biệt của mội thư gia.

    10. HÀNH KHÍ 行氣

    Trong một tác phẩm thư pháp khoảng không gian liên đới giữa chữ và chữ, giữa hàng và hàng có sự quan hệ hô ứng (gọi và đáp) ánh dới (lung linh vằng vặc), bút dứt mà ý không lìa, liên kết thành hàng, gom nhiều hàng thành đoạn, chữ trên chữ dưới, chữ bên tả và bên hưu, chữ đầu chữ cuối… tất cả như cùng một hơi thở, nhất loạt biế hóa trong một tổng thể hài hòa, được như thế là hành khí tốt. Trong “lục pháp luận” Tạ Hách gọi là “khí vận sinh động”.

    11. CỐT PHÁP 骨法

    Còn gọi là “cốt lực…” , cốt là xương cốt, đây nói đến khung sườn của chữ, chỉ sự uẩn khúc của bút lực trong nét bút, tạo sự vững chắc của hình thể, toát ra được thần vận mà người viết muốn diễn đạt.

    12. NHỤC PHÁP 肉法

    Phép dụng mực và kỹ pháp thể hiện phần thịt của chữ, dụng mực khi nồng đậm khi đạm nhạt nên tạo hiệu quả nét chữ khi mập béo khi gầy ốm, vén bút khi tinh gọn khi thô thiển.

    13. CHIẾN BÚT 頓筆

    Sách “Đàn hội” kể rằng: “Nam Đường Lý Hậu Chủ vốn tinh thông thư pháp, thường sử chiến bút, vận dụng bút dường như đang nghe tiếng trống nhịp, chữ của ông như cành tùng run rẩy dưới trời đông, như đám trúc rét mướt trong sương”. Chiến bút tức là nét chữ viết hơi rung như có nhịp đàn hồi mà hơi đều. Ngòi bút như chia hai, một bên rung động, một bên bình ổn, còn gọi là Kim thác đao … (cái giũa vàng).

    14. NHẤT BÚT THƯ 一筆書

    Một kỹ pháp của thảo thư, khi viết một chữ chỉ thực hiện một nét liên tục, từ nét đầu đến nét cuối chỉ một lần hạ bút, tường truyền do Trương Chi đời Hán sang tạo.

    15. CHƯƠNG PHÁP 章法

    Là cách sắp xếp bố trí chữ với chữ, hàng với hàng và bố cục chung cho toàn bức thư pháp. Thuộc về lĩnh vực chương pháp còn có các thuật ngữ sau:

    15.1. Khoản thức 款式

    Là các loại hình khi dùng để thể hiện một bức thư pháp, có các loại:

    Một số thuật ngữ thư pháp thường gặp - Phần 2

    Điều Phúc (Biểu)

    Điều phúc 條幅 : Bức chữ có trục để cuộn lại, khi treo treo theo chiều dọc.

    Một số thuật ngữ thư pháp thường gặp - Phần 2

    Tứ điều bình

    Tứ điều bình 四條屏: Bình phong bốn bức liên kết thực hiện một nội dung thư pháp hoặc bốn nội dung tương quan; 6 bưc là lục điều bình… ; 8 bức là bát điều bình.

    Một số thuật ngữ thư pháp thường gặp - Phần 2

    Trung đường ở giữa, câu đối hai bên

    Trung đường 中堂: Bức chữ hình chữ nhật hoặc hình vuông, nội dung thư pháp thường là một hoặc một vài chữ lớn, có khi là bài minh, bài châm, bài thơ... thường treo ở bức vách giữa nhà, hướng phía cửa ra vào, hai bên bức trung đường thường có cặp đối liên đi kèm.

    Đối liên 對聯 : Hai bức ốm dài treo dọc mang nội dung một cặp văn đối.

    Một số thuật ngữ thư pháp thường gặp - Phần 2

    Hoành phi

    Hoành phi 橫披: Bức  treo ngang có nội dung là tên hiệu, thư trai, tự viện hoặc trích lời thánh hiền súc tích ngắn gọn thường khoảng 2 đến 4 chữ.

    Thủ quyển

    Thủ quyển 手卷: bức treo ngang có nội dung là thơ, phú, văn, từ.

    Một số thuật ngữ thư pháp thường gặp - Phần 2

    Phiến diện (hình quạt)

    Phiến diện 扇面: bức chữ có hình quạt.

    Khoản thức là một sô' dạng khung hình dể làm phương tiện thực hiện thư pháp, tùy theo nội đung và vị trí đặt bức thư pháp mà chọn khoản thức thích hợp. Giữa chương pháp và khoản thức có sự liên hệ mật thiết.

    15.2. TRIỂN XÚC 展促

    Là một tiểu xảo của chương pháp, chỉ cách xừ lý lình hoạt giữa các cạnh nhau có sự chênh lệch cao về nét, về độ cao thấp. Thư gia đời Đường Nhan Chân Khanh trong “Trương trưởng sử bút pháp thập nhị ý” có viết về triển xúc: ‘chữ lớn thúc giục ra lệnh cho chữ nhỏ, chữ nhỏ dường như dõi trông để điền khiển chữ lớn, hai bên truyền lệnh qua lại một cách ẩn mật, do vậy mà tạo dược thế tương xứng”.

    15.3. ĐỀ KHOẢN 提款

    Là những dòng chữ nhỏ, trước và sau nội dung chính cùa bức thư pháp; những dòng này ghi lại niên hiệu của người viết, người tặng người được tặng, thời gian địa điểm, hoàn cảnh thực hiện bức thư pháp, cũng có khi ghi vắn tắt tám trạng tình cảm, lời chúc tụng lời ký thác của người viết hoặc người nhờ viết.

    15.4. ĐỀ BẠT 题跋

    Đề là lời ghi đầu của bức thư pháp còn gọi là dẫn thủ (lời dẫn dắt dầu tiên). Bạt là lời ghi sau nội dung thư pháp. Đề và bạt thường là từ cú của người không phải là tác giả thư pháp mà là của bạn bè, thầy học hoặc người đời sau, nội dung là lời bình thuật, ký sự hoặc dùng câu thơ lời văn đã có sẵn từ xưa để so sánh ví von nhằm xưng tụng, tán dương nội dung hoặc hình thức bức thư pháp; có khi là lời văn của người đời sau khảo chứng về nội dung tác phẩm vể sự thật giả của tác phẩm.

    15.5. ẨN CHƯƠNG 印章

    Một số thuật ngữ thư pháp thường gặp - Phần 2

    Ấn Chương, Triện Khắc

    Còn gọi là Triện, con dấu hay Ấn Triện, là ký hiệu riêng của thư gia dùng để ấn lên tác phẩm thư pháp. Có thể dùng đá, gổ, dồng, ngà, xương có khi là ngọc quí để khắc ấn. Nội dung thể hiện trên mặt ấn thường là họ tên, tự hiệư của thư gia (gọi là danh chương) hoặc từ cú danh ngôn, tiêu chí, năm tháng {gọi là nhàn chương). Cũng như phần đề khoản, ấn chương là một yếu tố không thể thiếu trong chương pháp.

    6. BI VÀ THIẾP 碑與帖

    Một số thuật ngữ thư pháp thường gặp - Phần 2

    Bia bắc ngụy

    Bi: là cái bia đá có khắc chữ khối đá vuông gọi là bi, khối đá trụ gọi là kệ £§ (kiệt). Bài vãn khắc trên bi để ghi lại sự kiện gì dó gọi là Bi ký tyíĩL. “Bí ký học” là môn học nghiên cứu văn bia để giúp cho sử học. Các thư gia thường tham khảo chữ trên bi thời cổ để mở rộng kiến văn và có khi theo hẳn phong cách của chữ trên bi nào đó mà họ thích.

    Một số thuật ngữ thư pháp thường gặp - Phần 2

    Mễ Phất thiếp

    Thiếp: thời xưa viết chữ vào lụa gọi là thiếp, sau có giấy viết chữ vào giấy cũng gọi là thiếp; lấy giấy dập lấy chữ ở bia ra để xem cũng gọi là thiếp. Nay thiếp là từ gọi chung những bản chữ mẫu được viết tay hoặc in đề người học thư theo đó mà luyện tập.

    17. TUYỂN THIẾP 選帖

    Là chọn thiếp để luyện tập, thiếp được ví là người thầy không nói, người học thư tùy theo trình độ, khả năng và thời điểm học tập mà tuyển thiếp thích hợp.

    18. ĐỘC THIẾP 讀帖

    Là quá trình quan sát, phân tích và nhận định rõ ràng về hình thể (tự hình) của chữ, cách kết cấu, cách điểm hoạch... trên một mẫu thiếp đã chọn dể luyện tập.

    19. LÂM THIẾP 臨帖

    Nhìn thiếp mẫu để theo dó mà viết gọi là Lâm thiếp, là giai đoạn tất yếu mà người học thư phải kinh qua.

    GHI CHÚ:

    Trên đây là một số thuật ngữ thư pháp thường gặp trong quá trình đọc sách này để tránh giải thích dài dòng hoặc phải ghi bằng nghĩa tiếng Việt xét thấy rườm rà và phải lập lại nhiều nơi, các từ đã được nêu trên sẽ dược ghi bằng nguyên ám Hán, ngoài ra còn rất nhiều thuật ngữ chĩ xuất hiện một đôi lần trong sách sẽ được giải nghĩa hoặc chú thích tại trang viết.

    Nguồn: Sách Thư Pháp Chữ Hán – Lý thuyết và thực hành. Tác giả: Phạm Hoàng Quân.