Giỏ hàng
Danh mục sản phẩm
Facebook Instagram Youtube Twitter

Thú dùng tranh để chúc tết

Đăng bởi Nguyễn Chí Việt ngày bình luận

MỤC LỤC [Ẩn]

    A. CHÚC TẾT BẰNG TRANH CHỮ

    Gọi là tranh chữ vì nhiều tranh chỉ có một chữ, mỗi chữ lại được vẽ rất lớn, cũng có khi còn được điểm tô bằng nhiều hình ảnh rất công phu. Những tranh chữ thường có những sau đây:

    - Phú, Quí, Thọ, Khang, Ninh. 

    - Phúc, Đức.

    - Phúc, Thọ.

    - Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

    Tranh chữ Phúc còn thấy có câu: Phúc như Đông Hải. Tranh chữ Thọ còn thấy có câu: Thọ tỷ Nam Sơn.

    Tranh chữ cũng có thể là vừa tranh vừa chữ. Trong bức tranh, trên mỗi hình vẽ lại có một câu chúc tụng ngắn. Ví dụ:

    - Tiến lộc tiến tài (vẽ trên hai lọ lục bình có cắm hoa sen, do hai vị quan văn hay hai vị thần văn cầm).

    - Tích ngọc đôi kim (vàng bạc chất đống).

    - Chiêu tài tiến bảo (có thêm tiền của; tranh hai chú bé: một chú cầm quả đào để chữ tích ngọc đôi kim, một chú cầm quả phật thủ đề chữ chiêu tài tiến bảo).

    - Cao thăng lộc vị (vẽ hai vị quan cầm ngọc như ý, bên cạnh có ghi bốn chữ cao thăng lộc vị).

    - Nhất bản vạn lợi (ghi trên bức tranh vẽ các cảnh nhà nông như xay thóc, đập lúa, gánh lúa, vác cầy ra ruộng, cấy lúa).

    - Đinh tài tương vượng (con cái của cải đều vượng; hình hai chú bé ôm nhau ngồi bên cạnh hũ vàng, người anh đang cầm quyển sách, trên có ghi đinh tài tương vượng).

    - Trường sinh, bình an (tranh ông lão gánh hai quả lựu, mang chữ trường sinh; tranh ông lão gánh hai quả đào, mang chữ bình an).

    - Đào hiến thiên xuân (đào dâng nghìn tuổi xuân; tranh ông lão cầm quả đào).

    - Lựu khai bách tử (quả lựu mở sinh trăm con; tranh ông lão cầm quả lựu bóc dở, cho trông thấy hạt).

    - Phú quý vinh hoa vạn vạn niên (đề trên tranh vẽ ba đứa trẻ đang chơi với hoa, với chim).

    - Nhất gia hòa khí tử tôn hiền (đề trên tranh vẽ ba đứa trẻ đang chơi chim, cá).

    - Xuất môn nghinh bách phúc, nhập hộ chúc tam đa (đề trên bức tranh hai đứa trẻ đầu đội dĩa đào, dĩa lựu, tay mang lộc bình cắm hoa sen, hoa cúc).

    - Thiên hạ thái bình, quốc gia thịnh trị.

    - Thiên hạ thái bình, nhân dân an lạc (viết trên tranh vẽ người nông phu ngồi nghỉ dưới gốc cây, bên cạnh cái cày, ấm nước và con trâu nằm nghỉ; hoặc trên tranh vẽ người nông phu ngồi nghỉ dưới bóng liễu, bên cạnh cái bừa và con trâu nằm nghỉ).

    B. CHÚC TẾT BẰNG HÌNH ẢNH

    Người xưa nhiều khi không dùng chữ, mà chỉ dùng hình ảnh để nói lên lời chúc nguyện. Có hai cách sử dụng hình ảnh:

    - Coi hình ảnh như là một tượng trưng

    - Coi hình ảnh như là một chữ

    1. Coi hình ảnh như là một tượng trưng

    - Quả đào tượng trưng cho sự sống lâu.

    - Quả lựu tượng trưng cho sự đông con cái.

    - Con lợn đực tượng trưng cho sự sung túc.

    - Con lợn cái với bầy con tượng trưng cho sự sung túc và con cái đầy đàn.

    - Con gà mái với bầy con tượng trưng cho gia đình đông đúc, đầm ấm.

    - Con công tượng trưng cho sự bình an thịnh vượng.

    - Con hạc biểu hiện sự sống lâu.

    - Con cóc tía tượng trưng cho sự giàu có, can đảm, và cái gì quý báu, khó kiếm ra được.

    - Cậu bé con tượng trưng cho con cái đầy đàn.

    - Quan văn tượng trưng cho tước lộc.

    - Ông già tượng trưng cho sự sống lâu.

    - Quyển sách tượng trưng cho sự may mắn về đàng công danh, khoa cử.

    - Rồng tượng trưng cho hạnh phúc.

    - Phượng tượng trưng cho sự trường thọ.

    - Cá vượt vũ môn tượng trưng cho sự thi đỗ.

    2. Dùng hình ảnh thay chữ

    Người ta cũng có thể dùng hình ảnh thay chữ, vì hình ảnh ấy đọc giống hay gần giống một chữ Hán nào đó, ví dụ:

    - Vẽ con gà (Kê 雞) thay chữ Cát 吉 (tốt lành) vì chữ Kê đọc gần như như Cát.

    - Vẽ cái bình (Bình 瓶) để thay chữ Bình 平 (bình an).

    - Vẽ con cá (Ngư 魚) thay cho chữ Dư 餘 (dư thừa), vì Ngư và Dư đọc gần như nhau.

    - Vẽ hoa sen (Liên 蓮, Hà 苛) thay chữ Liên 連 (liên tục) hay thay chữ Hòa 和 (hòa hợp).

    - Vẽ quả thị, cành thị (Thị 柿) thay chữ Sự 事 (sự việc) vì hai chữ đọc giống nhau.

    - Vẽ ngọc như ý thay cho hai chữ Như Ý 如 意.

    - Vẽ hoa cúc (Cúc 菊) thay chữ Cửu 久 (lâu), Cư 居 (ở) hay Cử 舉 (tất cả).

    - Vẽ con dơi (Biên Phúc 蝙 蝠) thay chữ Phúc 福 (hạnh phúc). Vẽ 5 con dơi thời đọc là Ngũ Phúc 五 福.

    - Vẽ con mèo (Miêu 貓) thay chữ Mạo 耄 (già 80 tuổi).

    - Vẽ con bướm (Điệp 蝶) thay chữ Điệt 耋 (già 70 tuổi).

    - Vẽ bông hoa (Hoa 花) thay chữ Vinh Hoa 榮 華.

    - Vẽ cái kích (Kích 戟) thay chữ Cát 吉 (tốt lành).

    - Vẽ ống sáo (Sinh 笙) thay chữ Sinh 生 (sinh nở) hay chữ Thăng 升 (bay lên).

    - Vẽ quả lựu (Lựu 榴) thay chữ Lưu (đời).

    - Vẽ cây bầu (Đại) thay chữ Đại 代 (đời).

    - Vẽ con hươu (Lộc 鹿) thay chữ Lộc 祿 (lộc), v.v...

    C. CÁCH DÙNG HÌNH ẢNH ĐỂ CHÚC TỤNG

    Hiểu được các cách ngụ ý trên, ta sẽ hiểu cách dùng hình ảnh để chúc Tết.

    Ví dụ:

    1. Vẽ hình quả đào với 5 con dơi là Ngũ Phúc. Mà Ngũ Phúc theo Hồng Phạm Cửu Trù trong Kinh Thư là:

    + Giàu (Phú 富)

    + Sống lâu (Thọ 壽)

    + Khỏe mạnh (Khang ninh 康 寧)

    + Yêu nhân đức (Du hiếu đức 攸 好 德)

    + Chết êm ái (Khảo chung mệnh 考 終 命)

    2. Vẽ hoa cúc (tượng trưng phúc thọ) với một giải lụa dài (bàn trường) là muốn chúc: Phúc thọ bàn trường 福 壽 ○長 . Vẽ hoa cúc với con chim hoàng tước là chúc cử gia hoan lạc 舉 家 歡 樂 (cả nhà yên vui), vì Cúc 菊 đọc gần như chữ Cử 舉 , chữ Hoàng 黃 đọc gần như chữ Hoan 歡 (vui).

    3. Vẽ quả phật thủ với con bướm là chúc Điệp thọ 耋 壽 (sống lâu đến 70-80), vì quả phật thủ tượng trưng cho Thọ hay Phúc, con bướm (Điệp 蝶 ) thay chữ Điệp (Điệt) 耋 là già 70 tuổi.

    4. Vẽ quả phật thủ (phúc) với quả đào (thọ) và quả lựu (đông con) là chúc: đa phúc, đa thọ, đa nam tử.

    5. Vẽ quả phật thủ, quả đào, quả lựu với 9 miếng ngọc như ý là có ý chúc: tam đa cửu như 三 多 九 如 , nghĩa là chúc cho phúc thọ, con cháu đầy đàn, bền vững. Theo Kinh Thi (Tiểu nhã- Thiên bảo), cửu như là:

    - Như núi (như sơn 如 山),

    - Như gò (như phụ 如 阜),

    - Như đồi (như cương 如 岡),

    - Như nổng (như lăng 如 陵),

    - Như sông nước cuồn cuộn chảy (như xuyên chi phương chí 如 川 之 方 至),

    - Như mặt trăng lâu dài (như nguyệt chi hằng 如 月之 恆 ),

    - Như mặt trời đang lên (như nhật chi thăng 如 日之 升),

    - Như núi Nam trường thọ (như Nam sơn chi thọ 如 南山 之 壽),

    - Như tùng bách luôn tươi xanh (như tùng bách chi mậu 如 松 柏 之 茂).

    6. Vẽ quả lựu đã bóc vỏ một phần để lộ hạt ra là có ý chúc: lựu khai bách tử 榴 開 百 子 (lựu mở sinh trăm con).
    Nếu vẽ quả lựu với 5 cậu bécon là ý chúc cho con cái sau này đều dương danh hiển đạt như 5 con của ông Đậu Yên Sơn đời Tống.

    Có khi lại vẽ quả lựu (Lựu 榴 > Lưu 流 )[3] với cái mũ (Quan 冠 > Quan 官), cái đai lưng (Đái 帶), cái thuyền (Thuyền 船 > Truyền 傳), đó là chúc: Quan đái truyền lưu 官 帶傳 流 (được phong quan tước nhiều thế hệ).

    7. Vẽ cành thị (Thị 柿 > Sự 事) với ngọc như ý (Như ý 如 意) với một giải lụa dài (bàn trường) là có ý chúc: Sự sự như ý bàn trường 事 事 如 意 ○長 (làm gì cũng được như ý mãi mãi).

    Vẽ cành thị với cái kích (Kích 戟 > Cát 吉), cái khánh (Khánh 慶), con cá (Ngư 魚 > Dư 餘) là chúc cho: Sự sự cát khánh hữu dư 事 事吉 慶 有 餘 (làm gì cũng được tốt lành thắng ý nhiều).

    Vẽ hai quả thị với ngọc như ý là chúc sự sự như ý 事 事 如 意.

    8. Vẽ cây ngô đồng (Đồng 桐 > Đồng 同 : cùng với) với con hươu (Lộc 鹿 > Lộc 祿) và chim hạc (trường thọ) là có ý chúc Lộc thọ đồng lộc hạc 祿 壽 同 鹿 鶴 (được bổng lộc và sống lâu như hươu, hạc).

    Vẽ chim hỉ thước 喜 鵲 (Hỉ 喜 : vui) đậu cây ngô đồng (Đồng 桐 > Đồng 同 : cùng với) là có ý chúc Đồng hỉ 同 喜 (mọi người cùng vui vẻ).

    9. Bông sen (Liên 蓮 ) chỉ sự liên tục, liên tiếp (Liên 連 ), nên vẽ đứa trẻ cỡi trên lưng con kỳ lân tay cầm bông sen và ống sáo (Sinh 笙 > Sinh 生) là ý chúc: Liên sinh quý tử 連 生 貴 子 (liên tiếp sinh quý tử).

    10. Vẽ 4 đứa trẻ con, mỗi đứa một vẻ: đứa cầm cành táo (Tảo 棗: cây táo > Tảo 早 : sớm), đứa cầm ống sáo (Sinh 笙 > Sinh 生), đứa cầm cái ấn quan văn, đứa cầm cái kích quan võ là có ý chúc: sớm sinh con cái sau này thành quan văn hay quan võ.

    11. Vẽ cậu bé con ăn mặc sang trọng (Phú 富), cổ đeo cái khánh (Khánh 慶: may mắn hạnh phúc) đang ngắm bầy cá vàng (Ngư 魚 > Dư 餘) là ý chúc: Giàu có, đông con, hạnh phúc có thừa).

    12. Cành mai 梅 dùng thay chữ Mỗi 每 (mọi người) hay chữ Mi 眉 (làn mi). Cành trúc 竹 dùng thay chữ Chúc 祝 (chúc tụng). Do đó vẽ Chim hỉ thước (Hỉ 喜: vui) đậu cành mai 每 (mọi người) cành trúc là ý chúc cho mọi người đều vui vẻ. Có người giải là Hỉ mi 喜 眉 (mặt mày vui vẻ).

    Vẽ trúc mai là chúc mọi người may mắn.

    Vẽ mai, trúc với con mèo (Miêu 貓 : mèo > Mạo 耄: già 80) và con bướm (Điệp 蝶: bướm > Điệp 耋: già 70) là ý chúc mọi người sống lâu đến 70-80 tuổi.

    13. Cành quế chỉ sự thanh quý, nên vẽ đứa trẻ cầm cành quế, hoa sen (Liên), và ống sáo (Sinh) là ý chúc: Liên sinh quý tử 連 生 貴 子 (liên tiếp sinh quý tử).

    14. Hoa mẫu đơn là hoa phú quý, còn chim phượng theo đạo Lão là chim Đan điểu, thứ chim linh, chim quý ở động thần tiên, nên vẽ mẫu đơn với chim phượng là ý chúc: Sẽ có được mọi điều quý báu nhất trong đời.

    Vẽ mẫu đơn với con gà (Kê 雞 > Cát 吉) là chúc: phú quý cát tường 富 貴 吉 祥.

    15. Con gà trống gọi là Công kê 公 雞 , nên có thể thay cho chữ Công 功 (công nghiệp). Gà có thể gáy. Chữ Nho gáy là Minh 鳴, mà Minh 鳴 thì đọc giống như chữ Danh 名. Nên vẽ gà trống là đã đủ chúc được công danh 功 名.

    D. NHỮNG CÁCH CHÚC TẾT CÓ TÍNH CÁCH BÙA CHÚ

    Ngoài ra còn có những hình thần thánh dán ngoài cửa hoặc trong nhà để trừ tà, giáng phúc, như:

    - Thần Vũ Đinh (môn thần) trừ tà.

    - Thần Huyền Đàn (trấn môn).

    - Thần Tử Vi (trấn trạch).

    Các hình thần trên đây thường được vẽ kèm theo các hình Nhị Thập Bát Tú, Tứ linh, Tứ tượng, Thái Cực, Ngũ hành, Bát quái, Long mã phụ đồ, Thần quy phụ thư, v.v. cho tăng thêm vẻ thần bí. Chính vì thế mà tất cả các loại hình trên được gọi chung là bùa trấn trạch. Tuy nhiên chúng cũng là những lời ước nguyện. Ước nguyện được sống yên ổn, hạnh phúc dưới sự che chở của chư thần, không bị tà ma quấy nhiễu.

    Trên đây tôi chỉ khảo tranh Tết về loại tranh chúc tụng. Thật ra còn nhiều loại tranh như:

    - Tranh thờ,

    - Tranh giáo hóa (Chính khí ca, Nhị Thập Tứ Hiếu, phương ngôn, v.v.),

    - Tranh lịch sử (Ngô Quyền, Trưng, Triệu, Trần Hưng Đạo, Đinh Tiên Hoàng, v.v.),

    - Tranh truyện (Truyện Kiều, Thạch Sanh, Nhị Độ Mai, Phan Trần, Hoa Tiên, Chinh Đông, Chinh Tây, Tam Quốc, Tây Du, v.v.)

    - Tranh trào lộng (riễu những tệ đoan xã hội, những thói văn minh rởm, hoặc riễu Tây chế Tàu, v.v.)

    - Tranh sinh hoạt dân gian và đồng quê, v.v.

    Nều mà đem bàn cả, thì không biết bao giờ mới nói hết.

    Bàn qua về tranh Tết, về ý nghĩa những lời chúc tụng và những cách dùng để chúc Tết trong các tranh Tết, ta mới thấy chúng tuy đơn sơ, mộc mạc, nhưng không kém phần cao siêu, và đã chiếm được một địa vị khả quan trong nền văn hóa nước nhà.

    Nó vừa thấp lại vừa cao.

    Thấp vì những hình ảnh của chúng rất là đơn sơ mộc mạc, dân dã, dù một đứa bé con cũng thích, cũng hiểu. Cao vì dẫu một học giả uyên thâm cũng khó lòng mà biết hết cái hay ho ý vị của nó.

    Tôi ước mong một ngày gần đây, bộ Văn Hóa Giáo Dục cũng sẽ in bán cho dân chúng miền Nam những tranh Tết mộc mạc rẻ tiền như vậy.

    Làm văn hóa mà đi sâu được vào tới mọi thôn xóm của dân gian, vào được tới mọi hang cùng ngõ hẻm, để đem lại cái hương vị của nghệ thuật, cái màu sắc của ngày xuân, ngày tết, cái bản sắc của dân tộc, cái tinh hoa của nền đạo lý cổ truyền, đem lại được cho dân gian một ước mơ, hay nói đúng hơm một niềm tin tưởng vào hạnh phúc tương lai, giúp cho họ ăn tết, hưởng xuân vui hơn, như thế chẳng phải là một sự đóng góp văn hóa giá trị hay sao?
    Để kết thúc bài này, tôi xin mượn hai bài thơ chúc bình an, trường sinh của tranh Tết xưa để chúc mừng năm mới quý vị độc giả. Hai bài thơ này đề trên hai bức tranh bình an và trường sinh.

    Trên bức bình an vẽ một ông lão tráng kiện, gánh một gánh quả, mỗi bên có một trái đào lớn, trái thì ghi chữ bình, trái thì ghi chữ an, với bài thơ rằng:
    Tự đâu mà lại gánh an bằng,
    Tuổi tác xem chiều hãy khỏe lưng.
    Thôi đã giã ơn công cán ấy,
    Đem cho vâng lấy, để cho mừng.
    Cho vâng lấy, để cho mừng,
    Hãy ra sức gánh an bằng về đây.

    Bức tranh thứ hai cũng vẽ một cụ già tráng kiện, râu tóc đẹp đẽ, gánh hai quả lựu, một quả ghi chữ trường, một quả ghi chữ sinh, với bài thơ như sau:
    Gã nào thong thả gánh tràng sinh,
    Lão tráng hùng hào mới biết danh,
    Song đã có lòng đem lại đấy,
    Ơn cho mặc đội, sở cung mình.
    Ơn mặc đôi, sở cung mình,
    Mỗi năm một gánh trường sinh đến nhà.
    Kính chúc quý vị bình an trường thọ.
    Xuất môn nghinh bách phúc,
    Nhập hộ chúc tam đa.
    và vui hưởng một xuân mới trong bầu không khí hoan lạc.

    [1] Đã đăng tạp chí Phương Đông, số kép 31-32, tháng 1, 2-1974, Xuân Giáp Dần.

    Đây là một bài khảo luận, lượm lặt hoặc phiên dịch những tài liệu đã có, nhất là của:

    - Maurice Durand, Imagerie populaire vietnamienne, École Française d’Extrême Orient, Paris, 1960.

    Tranh Tượng Dân Gian, nhà xuất bản Mỹ Thuật, Hà Nội.

    - Các số Indochine 127 (Jeudi 4-2-1943) và 230 (Samedi 16-2-1945)

    - Schuyler Camman, Types of Symbols in Chinese Art, trong quyển Studies in Chinese Thought, edited by Arthur Wright.

    - Thái Tuấn, Ngày Xuân xem tranh mộc bản Việt Nam, tạp chí Phương Đông, số 19-20.

    [2] cf. Tranh Tương Dân Gian Việt Nam.

    [3] Dấu > là chuyển đổi ý nghĩa thành.

    Nguồn: Trích từ bài viết của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ